Những từ không được nói tại Nhật Bản
(Sẻ Xanh) - Người Nhật nói chuyện với nhau rất khách khí, họ hết sức tránh những từ phạm huý người khác
Trong đám cưới, họ kỵ dùng từ như
“đã xong", "trở lại", "vỡ", "hỏng", "đoạn tuyệt"…Họ cho rằng, trong hôn
nhân, cả hai đều hy vọng sống đến đầu bạc răng long, những từ không may
mắn sẽ làm tổn thương đến tình cảm đôi lứa.
Một đám cưới tại Nhật Bản.
Hôn nhân tuy là việc đáng mừng nhưng cũng không hy vọng lặp lại hai lần. Do vậy, những từ như "trùng phúc", "nhiều lần", cũng tránh dùng. Trong đám cưới người Nhật, vấn đề quần áo cưới cũng rất được quan trọng. Đàn ông mặc comple màu đen, áo trắng, thắt cà vạt. Đàn bà mặc trang phục màu trắng, nhưng không được mặc đẹp hơn cô dâu. Họ còn cấm không được đến dự đám cưới với bộ mặt buồn rầu. Người nào có chuyện không vui thì tốt nhất là cáo lỗi về sớm.
Khi tham dự đám tang, người Nhật kỵ dùng những từ như "người tiếp đến người", "không lâu", "lại"… Đàn ông mặc comple đen, thắt cà vạt đen, đàn bà mặc váy đen, áo đen, không được đeo vòng cổ, nhẫn và tuyệt đối không được cười.
Khi gửi thư phải lưu ý người Nhật rất kị nhận được các bức thư dán ngược tem, đặc biệt là trong thời gian đang yêu. Nếu nhận được thư như vậy coi như là điềm báo tình yêu giữa hai người đã chấm dứt. Những bức thư được coi là tốt lành thường có hai lớp trong, ngoài; nếu là thư để an ủi hỏi thăm người gặp hoả hoạn thì nhất định chỉ dùng thư 2 lớp, nếu không sẽ bị coi là có ý nói hoả hoạn sẽ không chỉ là một lần.
Khi viết thư cho người Nhật phải viết thẳng chữ, khi gấp thư không nên để tên của người nhận thư hướng xuống dưới, nếu không sẽ bị coi có ý nói người nhận thư bị đầu độc chết.
Bộ tranh kỳ ảo bằng bút màu
(Sẻ Xanh) - Nghệ
sĩ Mỹ Christian Faur sử dụng hàng nghìn chiếc bút sáp không phải để tô
màu, mà thay vào đó, để xếp chồng ngọn bút thành những bức tranh độc
đáo.
| Bức tranh hoa anh túc với những chấm màu khiến người xem mới đầu tưởng là một bức tranh thêu chữ thập. | |||||||
| Nhưng nếu nhìn gần, người xem mới nhận ra bức tranh được xếp lại từ hàng nghìn ngọn bút sáp với những tông màu khác nhau. "Tôi thích ý tưởng về giao tiếp không phải bằng ngôn ngữ mà thông qua vật liệu. Tôi thấy rất vui khi được sử dụng các vật liệu kể cả để phá hoại hay nâng cao sức mạnh giao tiếp của chúng. Tôi thích nghịch ngợm. Tôi cảm thấy mình như trẻ con", Faur nói. | |||||||
| Nghệ sĩ nhiếp ảnh Christian Faur, tác giả của những bức tranh nghệ thuật độc đáo này lấy nguyên mẫu là những bức ảnh anh chụp được để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật mới lạ. Bức ảnh chụp con gái Christian được anh "vẽ" lại. | |||||||
| Cùng một bức ảnh có thể cho ra nhiều phong cách tranh sáp khác nhau. | |||||||
| Ý tưởng sử dụng ngọn bút sáp để xếp thành tranh bắt đầu từ năm 2005, khi Faur làm một hộp đựng bút màu bằng gỗ tặng con gái. Lúc đang dùng bút sáp tô màu, anh bất ngờ với đặc tính của sáp: không quá bóng nhưng cũng không quá mờ. Cách đầu bút tiếp nhận ánh sáng, cách chúng tạo ra những góc cạnh khi được xếp chồng lên nhau đã truyền cảm hứng và khơi gợi trí tưởng tượng cho Faur. | |||||||
| Trước khi xếp màu vào khung, Faur sử dụng máy tính để thiết kế trước và xác định tông màu, bố cục. Trong ảnh là một tác phẩm gần hoàn thiện bên cạnh những bức tranh đồ họa trên máy tính. Tất cả những chiếc bút sáp màu đều do Faur tự sản xuất, pha màu, và đúc thành hình trước khi được xếp chồng vào hộp gỗ. | |||||||
| Tác phẩm "Điệu nhảy I", sáng tác năm 2006. Faur cho biết anh mất khoảng 4 ngày để làm một bức tranh diện tích 0,3 m2, còn với những bức gồm nhiều tấm nhỏ diện tích từ 1-2,5 m2, anh có thể phải dành nhiều tháng để hoàn thành. | |||||||
| Tác phẩm "Ra đi", sáng tác năm 2007. | |||||||
| Tác giả Christian Faur bên các tác phẩm nghệ thuật của mình. |
Chị Hai Cua Đồng
(Sẻ Xanh) - Vùng quê nhỏ bé nằm bên bờ sông Tiền này được thiên nhiên ưu đãi về địa
thế. Cây trái và đồng ruộng do phù sa bù đắp quanh năm thành một vùng
trù phú. Nơi đây người ta không cần biết đến địa chỉ vẫn có thể tìm được
nhà nhau một cách dể dàng bằng phương thức hỏi thăm tên.
Vì thế khi hỏi nhà Hai Cua Đồng thì sẽ có ngay một cậu nhóc dẫn bạn đến tận nhà. Không phải chị Hai là người nổi tiếng hay giàu có gì, thậm chí chị khá nghèo so với những người khác và hình thức thì cũng không hơn ai. Không nhiều người biết tên thật của chị nên ngày từ nhỏ, khi chị chuyên đi bắt cua bán cho mấy bà bún riêu ở chợ, cái tên Hai Cua Đồng có từ đó.
Theo lời bà Tư kể thì chị hai khi còn nhỏ là đứa trẻ nhìn xinh xắn như bao đứa con nít khác. Rồi nhà chị xảy ra hỏa hoạn, ba chị mất mạng, chị cũng bị lửa táp phỏng nặng. Sau đó di chứng xảy ra khiến chị bị nhiều vết sẹo lớn và chân rút gân khiến dáng đi của chị không bình thường, ngay thẳng như người khác. Năm chị mười lăm tuổi, má chị qua đời bởi nhiều năm đau bệnh, bỏ chị trơ trọi trên cõi đời với mái nhà xiêu vẹo. Tùy hình dáng xấu xí làm nhiều đứa con nít khác khiếp sợ và trải qua nhiều biến cố như thế nhưng chị Hai không lấy làm buồn phiền. Ai cũng nhìn nhận chị là người tốt với chòm xóm, nhà ai có chuyện, chị tới giúp như người nhà của mình.
Năm chị 27 tuổi, buổi chiều như bao ngày chị đi bắt cua về rồi đem giao cho mấy bà ở chợ. Nhưng khi trở về nhà vào chập choạng tối, ngang qua khu nghĩa địa, chị nghe tiếng con nít khóc. Chị sởn cả tóc gáy khi nhớ đến những câu chuyện bà con kể quanh nghĩa địa này và thầm nghĩ lẽ nào có ma... Chị cố gắng bước nhanh. Tiếng con nít vẫn vọng theo gió kéo bước chân chị. Chị đắn đo "lý nào sớm vậy có ma" . Ma có nhát ai chứ làm sao dám nhát chị bởi chị còn xấu hơn nó kia mà. Hay là tiếng mèo hoang kêu rồi thần hồn nát thần tính nhưng lỡ đó là con nít thật thì sao?
Đắn đo mãi, cuối cùng chị quyết định bước vào nghĩa địa và lắng nghe xem tiếng khóc phát ra từ đâu. Chị đã định được hướng và đi về phía chòm mả của ông Cả Thượng được xây kiên cố, khang trang ở một góc nghĩa địa. Ngay giữa chòm mả ấy có một đống vải trơ trọi và tiếng khóc phát ra từ đó. Chị Hai rón rén bước đến với sự sợ sệt. Trời chập choạng tối, ở giữa nghĩa địa vắng vẻ cộng với tiếng trẻ con khóc khiến khung cảnh có cái gì đó ma quái làm chị nổi cả gai ốc.
Gom hết can đảm, chị Hai thò tay vào đống vải ấy, khi chạm được cái khối thịt tuy có phần lạnh nhưng chị Hai xác định đó là da thịt con người chứ chẳng phải ma quái. Điều đó khiến chị mạnh dạn và giở những lớp vải phía trên ra. Đúng như chị nghi ngờ, chính giữa là một đứa con nít đang bị kiến bu cắn đỏ cả người, có lẽ nó khóc từ lâu lắm nên tiếng khóc bắt đầu khàn đặc. Chị phủi kiến và cứ như thế ôm nó đi về nhà.
Nghe tin chị Hai nhặt được đứa con nít ở chòm mả một cách kỳ lạ như vậy, người ta kéo lại chật cái chòi của chị. Vài bà dì thương xót, phụ chị ủ, ẵm, pha sữa cho nó... Theo kinh nghiệm của họ, thằng bé sinh ra chưa tới một tháng. Đôi người đoán non, đoán già, ai mà bỏ con chắc cũng có nỗi khổ. Người thì rủa kẻ nào ác đức, "núm ruột" mà còn đem bỏ, nhỡ chị Hai không tới kịp, nó chết thì sao? Duy có chị Hai không bàn tán cũng chẳng ý kiến gì, chị ngồi yên lặng bên cạnh thằng bé, rờ nhẹ cánh tay của nó như sợ làm nó đau. Nhìn vết kiến lửa cắn chưa phai, chị ứa nước mắt .
Vốn đã nghèo, chị Hai tự nhiên "được thêm" cái khổ. Bởi chị ăn hà tiện được nhưng sữa cho thằng bé thì hà tiện làm sao? Bị cái tật ở chân, chị đi đứng đã khó khăn, còn ẵm thêm thằng bé. Nhiều người lắc đầu xót thầm cho chị. Bây giờ chị Hai kiêm luôn cái nghề lượm ve chai. Thấy cái gì có thể bán được, chị nhặt nhạnh đem về. Bà con thương chị, có cái nồi nhôm bể, hũ. lọ... cũng kêu chị để cho. Coi như cách phụ chị nuôi con bởi bà con ai cũng nghèo chứ khá giả gì đâu.
Vất vả, thiếu thốn là thế nhưng thằng bé bụ bẫm, ít bệnh vặt. Trộm vía trời thương nó, nó háo sữa và lớn lên thấy rõ. Năm nó giáp thôi nôi có ông người Hoa ở xóm chợ nhà toàn con gái, không con trai nên ngỏ ý muốn xin nó làm con. Ông hứa nếu chị Hai đồng ý, ông cho chị Hai tiền đủ mua ba công đất hẳn hoi. Nhiều người khuyên chị nên cho nó đi đỡ khổ thân chị, thân nó cũng hưởng sung sướng. Ba công đất đâu có ít ỏi gì. Với người như chị Hai, đó là niềm mơ ước. Nhưng chị Hai không giải thích hay trả lời gì, chị chỉ lắc đầu khi nhìn nụ cười của nó.
Năm tháng trôi qua, thằng bé tới tuổi đi học. Chị Hai càng chồng chất vất vả, chị làm không ngừng tay. Miếng đất nhỏ sau nhà chị biến thành vườn rau. Gà gáy sáng, chị đã ra đó. Có lẽ thấu hiểu lòng chị, thằng bé Hải (tên chị đặt cho nó) học rất giỏi. Ngoài giờ học, nó không chạy giỡn như bao đứa trẻ khác. Chị đi đâu, nó theo đó như bóng với hình. Chị làm gì, nó cũng phụ.
Năm nó mười một tuổi được lãnh thưởng học sinh giỏi toàn trường cuối cấp. Chị Hai nghỉ bắt cua một bữa, diện cái áo mới nhất đi coi con nhận thưởng. Nhìn nó đứng trên bục cao mà chị thầm hạnh phúc. Chị nghĩ không biết nó có nhận ra chị giữa đám người lố nhố thế này không?
Buổi lể tan, nó ôm phần thưởng chạy ào tới chị, hỏi :
- Má đứng lâu mệt không má.
Chị lắc đầu cười, lau mồ hôi trên trán rồi lật đật lấy chai nước đem theo đưa cho nó uống. Sau lưng chị có tiếng xì xào:
- Thằng nhỏ trắng trẻo, lớn con đẹp trai mà má nó nhìn thấy ghê vậy? Đúng là mẹ cú đẻ con tiên.
Một tiếng khác đáp lời:
- Con đâu mà con, lượm đó. Bà̉ làm gì mà đẻ được vậy. Thằng nhỏ vô phước, xui khiến gặp bà sống khổ muốn chết. Gặp người khác thì đỡ chút.
Chị hai bủn rủn tay chân, nụ cười tắt hẳn, chị nói với thằng Hải :
- Trễ rồi, về thôi con, má còn nhổ đám rau chiều nay.
Đang đi, thằng Hải chợt hỏi chị:
-Má, người ta nói má lượm con phải không má?
Điều chị hai sợ nhất cuối cùng đã xảy vào lúc này. Chị đã biết trước có ngày này nhưng không ngờ nó sớm thế.
- Chị chảy nước mắt gật đầu.
Thằng Hải hỏi chị tiếp:
- Má con là ai, sao bỏ con hả má?
Chị hai lắc đầu nói trong nước mắt:
- Má không biết... Nhưng má biết má thương con hơn mọi thứ trên đời.
Thằng Hải cắn môi im lặng rồi hỏi tiếp:
- Sao má khóc vậy má?
Chị lấy tay áo lau nước mắt nói:
- Con lãnh thưởng, má mừng, má khóc, ráng học cho sau này đỡ khổ, nghe con. Đừng có dốt, không biết chữ như má, cực khổ.
Thằng Hải nhìn mặt chị nói một cách mạnh dạn:
- Má đừng buồn, đừng khóc nữa má. Con lớn, con đi làm kiếm tiền, cất nhà đẹp cho má ở nghe má.
Chị xoa đầu nó cười...
Học hết cấp hai ở xã, Hải phải lên thị trấn đi học vì xã không có trường trung học. Từ thị trấn về nhà hết tám cây số, thương con, chị Hai kêu nó ở trọ trong ký túc xá, để khỏi phải đạp xe hằng ngày vất vả. Nó kiên quyết lắc đầu.
Ngày hai buổi, nắng hay mưa, nó cũng đạp xe đi về như thế. Ngoài giờ học, công việc vườn rau nó làm thay chị. Nhưng năm nào nó cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi. Hàng xóm hay lấy nó làm gương cho con mình.
Người ta mừng cho chị có chỗ dựa an ủi tuổi già. Nó không cho chị bắt cua nữa nhưng những buổi sáng nó đi học, chị vẫn lén lút đi. Chị muốn chắt bóp thêm để cho nó ăn học bởi chị nghe người ta bảo, học trên Sài Gòn tốn kém lắm.
Sáng hôm nay, đầu xóm, tụi con nít "bu" lại, nhìn ngó chỉ trỏ một cái xe hơi đang đậu. Trong xe, ở băng ghế sau còn có một bà ăn bận thật đẹp, người cứ thơm phưng phức. Phía trước bên lề, có một bà kia đang hỏi lũ nhỏ nhà chị Hai Cua Đồng ở đâu chỉ giúp bà, bà cho tiền mua bánh. Gì chứ, chị Hai Cua Đồng, ai mà không biết, thế là lũ nhỏ nhao nhao chỉ trỏ. Một lát sau thì chiếc xe dừng trước nhà chị Hai. Bà kia nói với người đàn bà ngồi băng ghế sau:
- Dạ em hỏi kỹ rồi bà chủ, không sai đâu. Cậu nhỏ bây giờ học lớp mười. Mười sáu tuổi ạ! Ở xóm này, ai cũng biết chị ấy lượm được con hết. Em đã điều tra rõ ràng rồi.
Người đàn bà đẹp thở dài, đưa khăn lên lau giọt nước mắt vừa tràn ra.
Buổi trưa, thằng Hải đi học về nhà như thường lệ. Điều đập vào mắt nó là cái xe hơi đang đậu trước sân. Chưa hết ngạc nhiên, bước vào nhà, nó thấy má nó đang khóc. Kế bên có một người đàn bà lạ cũng đang sụt sùi. Bên bộ ván có một người đàn ông và một người đàn bà nữa đang ngồi. Khi nó bước vô nhà thì bà đó nói:
- Dạ, cậu Hải về kìa bà chủ.
Nó cởi nón, gật đầu chào theo thông lệ và hướng ánh mắt về chị Hai thay câu hỏi ai vậy. Bởi xưa giờ, trừ người ta đến mua rau nhà nó, có khách bao giờ đâu mà mua rau cũng đâu ai sang trọng vậy.
Chị Hai kêu nó:
- Đi rửa mặt cho mát rồi vô má biểu.
Khi nó trở vô, chị kéo nó ngồi xuống kế bên nói:
- Dì này là má ruột của con đó. Má ruột của con tìm con vất vả lắm! Lại gọi má đi con...
Nói tới đó thì chị Hai nghẹn lời vì nước mắt.
Người đàn bà kia òa khóc lớn và nắm tay nó nói :
- Má xin lỗi con, không phải má bỏ con đâu. Bao năm nay má ăn không yên, ngủ không ngon, kiếm tìm con...
Thằng Hải nghe như đất dưới chân nó sụt xuống vậy. Dù từ lâu, nó hiểu nó không do chị Hai sinh ra nhưng nó không ngờ rằng má ruột đến tìm nó trong hoàn cảnh này. Trong lơ mơ, giữa những đoạn kể đứt quãng vì nước mắt của người má ruột nó, nó nghe câu được câu mất là:
- Má con nhà giàu, sống cùng cha và mẹ kế. Má thương ba con từ thời đi học nhưng ba con nhà nghèo. Bà mẹ kế muốn má lấy cháu ruột của bà ta vì gia sản của ông ngoại. Khi má sinh ra con, vì sợ ông ngoại, má phải giao con cho bà ta. Bà ta nói sẽ đưa con cho người khác nuôi giùm nhưng thật sự bà ấy sai người vứt con đi. Sau đó, cả gia đình ngoại con đi nước ngoài. Trời thương, cuối cùng ba má gặp lại nhau. Sau khi mẹ kế qua đời, ông ngoại con cũng hiểu ra, không ngăn cản như trước. Hiện con còn có thêm một đứa em trai nữa. Khó khăn lắm má mới tìm được tung tích con. Vì ông ngoại con bệnh già nên ba con không về cùng má được. Gặp lại con như vầy, ông ngoại với ba con mừng lắm! Con thương má, đừng trách má tội nghiệp.
Khi má ruột kể thằng Hải nghe như vậy, chị Hai tới cái tủ thờ, lục lọi gì đó. Khi nó quay qua hỏi chị Hai:
- Như vầy là sao hả má?
Chị Hai mếu máo, đúng rồi đó con, má con nói đúng, cái bớt son của con và cái lắc bạc đeo ở chân con. Khi má mang con về không cho ai biết bí mật này hết. Má gói giữ đây, định con lớn, giao cho con để con biết gốc tích của mình. Má con khổ bao năm nay rồi.
Hải ngỡ ngàng sự thay đổi khi cuộc đời mình tự nhiên có thêm bà má, ba, em trai. Trước khi má ruột đi về, ba nói chuyện điện thoại với nó, bảo sẽ nhanh chóng đón nó qua đó cho trọn gia đình. Nó mừng vì mình có gia đình như bao người chứ không trơ trọi. Xóm làng ai cũng vui lây. Một bước sung sướng, con nhà giàu. Nhưng nhiều lần nó cũng dò ý chị Hai khi nó đi rồi chị làm sao? Nó hy vọng chị ngăn cản nó nhưng lần nào chị cũng nói:
- Đi đi con cho có tương lai, qua đó được ăn học, đỡ cực khổ, sống với má mười mấy năm cực khổ rồi con. Ráng học thành người, trả hiếu má chưa muộn, má còn khỏe, má lo được, không sao hết con, còn chòm xóm bà con.
Nó cũng yên tâm phần nào vì không thấy chị Hai buồn phiền gì hết. Nhưng có một lần, nó đi học về sớm, khi ra vườn, nó thấy chị Hai vừa tưới rau, vừa quệt nước mắt. Cái dáng xiêu vẹo của chị in trong trời chiều như một dấu chấm hỏi.
Má nó về, dẫn nó đi làm thủ tục. Sau khi đi tới đi lui cũng thở phào nhẹ nhõm khi cầm trên tay cái visa. Chiều ngày mai thì nó theo má về gia đình thật của mình. Nhưng sao nó không thấy vui hay háo hức như nó nghĩ. Ngược lại, nó thấy như nó đang đánh mất cái gì đó quý lắm! Nó ngồi trước sân, miên man suy nghĩ, nhìn ra cây xoài đang ra trái non. Nó thấy lại hình dáng ngày xưa của mình với má.
Hai má con cùng trồng rau. Nó nhớ cái dáng xiêu vẹo khi má xách thùng nước, nhớ đôi tay má chai sần và đầy vết cua kẹp chứ không mềm mại, mát rượi như tay má ruột nó. Bỗng tiếng chị Hai vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của nó:
- Ngồi chi ngoài đó gió lạnh đó con. Tranh thủ ngủ sớm, mai má con xuống đón sớm đó. Vô đây má có chút chuyện dặn con.
Khi nó ngồi ngay ngắn trên bộ ván, chị Hai miệng nói, tay kéo cổ nó xuống:
- Sợi dây chuyền này má tính để dành cho con sau này đi học, có cần thì dùng, bây giờ má nghĩ không cần nữa rồi. Má cho con làm kỷ niệm. Má biết má con dư giả nhưng vạn nhất, chuyện gì con cũng có cái phòng thân. Má nghe mấy dì ngoài chợ nói xứ đó lạnh lắm! Con nhớ cẩn thận sức khỏe, con hay bị khò khè khi chuyển gió. Mới lại, về bên đó, ăn nói từ tốn, ngoan ngoãn cho người ta thương ha con. Cố gắng học nghe con...
Thằng Hải "nghe" vài giọt nước nhỏ lên cổ và giọng má đang nghẹn lại, nó biết má đang khóc. Nó an ủị:
-Dạ, con biết rồi má. Nhưng sợi dây má giữ đi, phòng thân có mình má bên đây, lỡ má đau bệnh. Con đi vài năm, con về với má liền.
Miệng nói, tay nó lần muốn tháo sợi dây chuyền ra. Chị Hai giơ tay ngăn lại, nói tiếp:
- Đừng lo cho má, từ đó tới giờ má cũng sống vậy. Má con có ngỏ ý gởi cho má số tiền ở trong ngân hàng phòng thân. Nhưng má bảo má không sao, để số đó lo cho con học hành. Giờ nhà mình cũng đâu khó khăn như xưa.
Sáng sớm, khi má ruột xuống đón Hải đi, bà con lại đến đưa tiễn, chúc nó lên đường bình an. Ai cũng ngỡ chị Hai sẽ khóc lóc nhưng trái với thông lệ, chị tươi cười vui vẻ, giống như thằng Hải đi học bao ngày chứ không phải là đi xa không biết bao lâu mới về. Khi xe chạy rồi, bà con ai về nhà nấy, chỉ còn duy nhất chị, chị ngồi bệt ngoài sân, dựa vô góc xoài nức nở khóc.
Xe Chạy tới Bình Chánh, ngoại ô Sài Gòn, má thằng Hải nói:
- Chút về tới khách sạn, ăn xong, kiểm tra hành lý rồi má con mình ra sân bay. Con đừng lo cho má con nhiều. Má mang ơn chị ấy không hết, má không để chị ấy thiếu thốn hay thiệt thòi gì đâu. Mỗi năm, má sẽ gửi tiền để chị ấy không phải vất vả, con yên tâm đi, vài năm con về thăm chị ấy.
Thằng Hải nhìn má nó rồi nói :
- Má kêu xe dừng lại chút được không má? Con khát nước quá! Con muốn nghỉ mệt chút, con đi xe không quen.
Xe tắp vô một cái quán võng bên lề. Sau khi uống nửa ly nước, thằng Hải tự nhiên xoay qua má nó, nói một hơi như sợ ai cướp lời nó:
- Má... con không giận, không buồn gì má hết, con vui vì con biết hồi xưa má không phải vứt con như con nghĩ. Gặp má, con mừng lắm bởi con có cội có nguồn. Con thương má nhiều vì con biết bao năm nay má tìm kiếm con vất vả, buồn rầu, lo lắng cho số phần con. Nhưng... con thương má của con hơn, má không có con, má còn có ba, có em. Còn má con có một mình con. Khi nào má con không còn nữa, con sẽ về bên má. Má... con xin lỗi má...
Trong khi má thằng Hải còn đang chưa biết phải làm sao trước sự cố bất ngờ vậy thì nó chạy ào qua thanh chắn phân cách hai làn xe...
- Hải... Hải...
Nó đưa tay vẫy chiếc xe đò ngược chiều mà không thèm nhìn coi xe đi tỉnh nào, nó nhảy phóc lên xe. Xe chạy đi trước sự ngỡ ngàng của má nó bên kia lề và chú tài xế đang cố băng qua đường về phía nó.
Trời về chiều, những tia nắng từ hướng tây chiếu xuống cái sân trước nhà. Bếp núc lạnh tanh dù sáng giờ, chị Hai chưa có hạt cơm bỏ bụng. Chị ngồi trong góc bếp hàng mấy giờ đồng hồ. Chị muốn đứng dậy đi ra sau vườn làm gì đó nhưng tay chân chị bủn rủn, không có sức lực. Chị thầm nghĩ: giờ này chắc Hải đang ngồi trên máy bay như mấy bà ở chợ nói. Chị tự dặn lòng phải mừng cho con chứ, sao mà ngồi ủ rũ như vậy?
Chợt chị nghe nhà trên có tiếng động, sợ con mèo mun nhảy lung tung như thường ngày, làm đổ bể cái gì, chị níu cây cột đứng lên, cố nheo mắt nhìn coi. Có cái bóng đen che ngang trước cửa nhà và tiếng thằng Hải gọi như bao lần đi học về:
- Má ơi...
Chị quỵ chân xuống, môi cười mà nước mắt tuôn như mưa. Ngoài sân, trời về chiều, gió ngoài sông thổi nhẹ từng cơn...
Song Nhi
Du lịch theo bước chân danh họa Van Gogh
(Sẻ Xanh) - Chiêm ngưỡng những khung cảnh thiên
nhiên tươi đẹp từng được thể hiện dưới ngòi búi danh họa Van Gogh.
Danh họa người
Hà Lan Van Gogh nổi tiếng với những bức họa đồng quê, thiên nhiên đẹp
nao lòng, được thể hiện với sắc vàng huyền ảo. Để thỏa lòng những tín đồ
nghệ thuật, nhiều tour du lịch tìm hiểu lịch sử và hoàn cảnh sáng tác
của nghệ sĩ đã được tổ chức, trong đó có tour du lịch theo những bức họa
của nghệ sĩ Hà Lan tài ba yểu mệnh.
1. Những cánh đồng hoa Hà Lan
Là một người con của đất nước hoa
tulip, Van Gogh dành rất nhiều bức họa để vẽ lại cảnh trí thiên nhiên Hà
Lan, nổi bật là những cánh đồng hoa đủ màu nối nhau như tấm thảm đầy
sắc màu. Để mục sở thị những cánh đồng bạt ngàn đủ sắc này, du khách có
thể tìm đến vườn quốc gia Keukenhof.
Bức tranh "Thảm hoa Hà Lan" của danh họa Van Gogh.
Và những cánh đồng hoa đẹp mê hồn trên thực tế.
2. Đồi Montmarte, Pháp
Đồi Montmarte là một trong những danh
thắng tuyệt đẹp ở thủ đô Paris. Không chỉ nổi tiếng với nhà thờ Sacre
Coeur trắng muốt in lên bầu trời xanh, Montmarte còn là khu đồi nghệ sĩ,
nơi rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng dừng chân, sáng tác, trong đó có Van
Gogh.
Đồi Montmarte trong tranh...
...và ngoài đời.
Ông đã dành một phần đời mình để sinh
sống tại đây và cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật đầy cảm xúc về
những quán cà phê trên đồi Montmarte. Chiếc cối xay gió Le Moulin de la
Gallette lừng danh ở khu phố đèn đỏ Pigalle cũng là nguồn cảm hứng
thường trực của danh họa.
3. Arles, Pháp
Arles là một trong những nơi Van Gogh
dừng chân lâu nhất trong cuộc hành trình ngắn ngủi của mình trên trái
đất. Đây là thành phố cổ được xếp hạng di sản thế giới của UNESCO nằm ở
khu vực Cote d’Azur miền Nam nước Pháp. Nơi đây nổi tiếng với những công
trình kiến trúc cổ và cả khung cảnh làng quê thơ mộng bậc nhất đất
nước.
Quán cà phê ngoài trời trên quảng trường Place du Forum ở thành phố Arles qua ngòi bút Van Gogh.
Cà phê trên quảng trường Place du Forum trở nên nổi tiếng nhờ bức tranh của Van Gogh.
Nhà thờ Auvers của thành phố Arles...
...cũng là nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ với vẻ cổ kính, trầm mặc.
Hoa hướng dương, đề tài bất hủ của Van Gogh...
...lấy cảm hứng từ đồng hoa ở Arles.
Cây cầu đôi Langlois ngoài đời.
...thêm đẹp qua ngòi bút họa sĩ.
Cảnh đồng quê miền Nam nước Pháp luôn rực nắng trong ánh mắt người nghệ sĩ tài hoa và
trở thành điểm du lịch khó cưỡng với du khách.
Sách gối đầu giường trước khi lớn
(Sẻ Xanh) - Những cuốn sách dạy cho ta cách để đứng lên sau những sai lầm, vấp ngã của tuổi trẻ.
1.Life and Death of Harriett Frean – May Sinclair
(Cuộc đời của Harriett Frean)
(Cuộc đời của Harriett Frean)
Các bạn thiếu niên khi bắt đầu chuẩn bị trưởng thành cần hiểu rằng mình cũng là một cá thể độc lập trong xã hội và đôi khi có thể nổi loạn một chút để trưởng thành theo cách mình muốn chứ đừng chỉ nhất nhất nghe theo bố mẹ. Nếu không, dù đã ở tuổi trưởng thành, thực chất họ vẫn chỉ là những đứa trẻ con to xác và cuộc sống của họ sẽ phải trả giá cho sự dựa dẫm quá lớn vào người thân. Những người sống như cây tầm gửi cũng rất đáng thương vì họ không bao giờ biết thế nào là hạnh phúc và long tự trọng theo đúng nghĩa của nó. Khi gặp khó khăn bão táp trong cuộc đời, họ chỉ nghĩ đến việc chạy ào về nhà và sà vào lòng cha mẹ.
Paris in the Fifties – Stanley Karnow
(Pari những năm 1950)
Văn hoá Pháp là một trong những nền văn hoá thịnh vượng nhất Châu Âu. Cuốn sách này là một sự hồi tưởng về những kỷ niệm thời tác giả còn sống ở Paris và là một phóng viên cho một tờ tạp chí từ những năm 1950. Vì vậy, ông đã có dịp va chạm với rất nhiều vấn đề thú vị của nền văn hoá và lịch sử Pháp rồi đem áp dụng vào cuộc sống của mình. Cuốn sách đem lại cho người trẻ một cảm nhận đẹp đẽ về nền văn hoá vừa có nét quen thuộc hiện đại nhưng cũng mang nhiều nét khác biệt bí ẩn và kỳ diệu của văn hoá loài người. Khi gấp trang sách, ban trẻ sẽ thấy khát khao đi du lịch và khám phá cuộc sống muôn màu trong mình bỗng lớn lên từ bao giờ.
Bel Ami – Guy de Maupassant
Cuốn sách như một cuộc tập dượt cho bạn trẻ cách thích nghi với cuộc sống khi trưởng thành. Lúc đó họ sẽ phải đối mặt với những tính xấu của chính bản thân mình, càng lớn, càng phải bon chen trong cuộc sống, phần đẹp đẽ trong tính cách càng bị thử thách và phần xấu xa chỉ trực lớn lên. Một ví dụ đơn giản: ai trong chúng ta cũng muốn làm ít đi, công việc nhẹ nhàng hơn nhưng thành quả phải thật to lớn và con đường đưa tới thành công nên là một con đường thẳng và ngắn thôi. Nhưng ước muốn đó là bất khả thi bởi thành công xây dựng trên một cái móng không vững thì sẽ nhanh chóng xụp đổ. Câu chuyện đời, chuyện nghề của tay nhà báo Georges Duroy sẽ giúp độc giả tìm thấy những bài học của riêng mình.
Homecoming – Cynthia Voigt
(Trở về nhà)
Oliver Twist – Charles Dickens
Câu chuyện kể về cậu bé mồ côi phải sống một cuộc đời vất vả, khổ sở, nhiều khi bị hành hạ, ngược đãi khiến trái tim người đọc xúc động. Qua hàng loạt những biến cố và những cuộc phiêu lưu, Oliver về sau gia nhập vào một băng nhóm những đứa trẻ đi móc túi và ăn cắp vặt tại London. Sau nhiều lần quay ra rồi lại quay vào, cuối cùng Oliver quyết định sẽ trốn đi thật xa để thực sự thoát khỏi băng nhóm tội phạm nhí này. Cậu bé quay về đoàn tụ với những người họ hàng, chấm dứt chuỗi ngày lang bạt kỳ hồ với những chuyến phiêu lưu đầy nguy hiểm rình rập.
The Adventures of Huckleberry Finn – Mark Twain
(Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn)
Little Women – Louisa May Alcott
(Những cô gái nhỏ)
Những cuốn sách gây tranh cãi trong lịch sử
(Sẻ Xanh) - Lịch sử loài người đã chứng kiến những cuộc "chiến tranh" nổ ra vì một tác phẩm văn học. Ngòi bút có sức mạnh không kém gì lưỡi gươm và lịch sử văn học đã khẳng định điều này.
The Holy Blood and the Holy Grail
(Máu thánh và chén thánh)
Cuốn sách này có nhiều điểm tương đồng với Mật mã Da Vinci. Máu thánh và chén thánh
được xuất bản lần đầu năm 1982 ở Anh bởi bộ ba tác giả Michael Baigent,
Richard Leigh và Henry Lincoln. Tác phẩm đã đưa ra nhiều thông tin
“ngược dòng” khiến các tín đồ Thiên Chúa giáo sửng sốt và gây ra nhiều
luồng dư luận trái chiều, những cuộc tranh cãi nảy lửa.
Những thông tin mà các tác giả đưa ra nửa thực nửa hư, vốn đã gây tranh cãi trong giới nghiên cứu Thần học, nhưng khi một tác phẩm chính thức xuất hiện trên thị trường với những lời lẽ đinh ninh để thuyết phục người đọc tin vào những gì được viết trong sách, thì nó như một mồi lửa làm bùng lên tranh cãi. Có thể kể ra ba đầu sách nghiên cứu về những vấn đề chưa được công khai và khẳng định về cuộc đời của Chúa Jesus như The Priory of Sion (Tu viện Sion) xuất bản ở Pháp năm 1956 bởi nhà văn Pierre Plantard, The Holy Blood and the Holy Grail (Máu thánh và Chén thánh), và gần đây nhất là cuốn The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci).
The Adventures of Huckleberry Finn
(Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn)

Đây là một trong những cuốn sách đi cùng tuổi thơ, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn không chỉ nổi tiếng ở Mĩ mà còn được yêu thích ở nhiều nước khác, tuy nhiên nó không bao giờ được trích dẫn trong sách giáo khoa văn học giảng dạy trong nhà trường Mĩ bởi trong truyện, tác giả đã
sử dụng từ “nigger”, một trong những từ phổ biến thời bấy giờ để chỉ
những người da màu, mà ngày nay “nigger” bị coi là một từ miệt thị, mang
sắc thái phân biệt chủng tộc.
Ở thời kỳ bấy giờ, từ “nigger” không hề có ý nghĩa miệt thị chủng tộc, nó được dùng rộng rãi khắp nơi trên đất Mĩ nhưng giờ đây khi phong trào đòi bình quyền giữa các dân tộc sống trên đất Mĩ ngày càng được quan tâm và trở nên gay gắt thì cuốn sách đã bị “vạ lây” và đành để mất chỗ đứng danh giá trong nền văn học chính thống giảng dạy trong nhà trường. Tuy vậy, theo thống kê, vấn đề nhỏ này không làm ảnh hưởng tới niềm yêu thích của tuổi trẻ Mĩ dành cho cuốn sách. Hầu như em nhỏ nào cũng từng đọc tác phẩm này ít nhất một lần.
The Book of Mormon
(Cuốn sách của người đàn ông đa thê)

Cuốn sách này cũng liên quan khá nhiều tới chủ đề tôn giáo và dường như những gì liên quan tới tôn giáo thì dễ dàng gây ra những cuộc tranh luận bởi nó chính là đức tin của con người. Trong sách, tác giả thể hiện nguyện vọng muôn đời của đàn ông là được lấy nhiều vợ. Tác giả cuốn sách, Joseph Smith khao khát chế độ đa thê quay trở lại nhưng luật pháp Mĩ không cho phép điều này, vì vậy ông đã nghĩ ra một thứ tôn giáo mới và đưa vào đó những câu trích dẫn của Kinh thánh những mong biến thứ tôn giáo này thành một dòng chính thống ở Mĩ để đàn ông có thể được đa thê.
Thứ đạo này tin vào những điều kỳ quái, siêu thực. Nó dựng lên trên cái nền là Thiên Chúa giáo và dẫn giải về những điều không tưởng, thiếu xác thực về cuộc đời của Chúa khiến nó bao trùm trong một màu sắc huyền hoặc và phi lý.
The Catcher in the Rye
(Bắt trẻ đồng xanh)

Đây là một trong số những sách tuy nổi tiếng nhưng vẫn bị cấm đưa vào trong giáo dục chính thống của nhà trường Mĩ. Tác giả Salinger đã
rất táo bạo khi xuất bản sách năm 1951 với rất nhiều trường đoạn miêu
tả cảnh nóng, những lời tục tĩu và bản chất nổi loạn cùng những trò tiêu
khiển tai hại của tuổi trẻ. Đây là một trong những sách gây nhiều tranh
cãi nhất trong năm 2005 khi nhiều nhà cải cách giáo dục cân nhắc đưa
sách vào giảng dạy trong nhà trường nhưng những vị phụ huynh cẩn trọng đã phản đối quá mạnh mẽ nên nó vẫn thuộc thể loại sách văn học “ngoài luồng” dành cho tuổi vị thành niên.
The God Delusion
(Ảo tưởng về Thượng Đế)

Những người vô thần tôn vinh
cuốn sách này, những người hữu thần nhạo báng cuốn sách, rất ít người có
thể đứng ở phe trung lập sau khi đọc xong cuốn Ảo tưởng về Thượng Đế. Đó có lẽ là mục đích của tác giả Richard Dawkins. Ảo tưởng về Thượng đế thực sự là một cuốn khảo luận gây nhiều tranh cãi về chủ đề thần học cho tới hôm nay. Trong cuộc tranh cãi đó, đúng sai vẫn chưa được phân định nhưng có một điều chắc chắn là mức độ thành công trên thị trường của nó rất lớn, với hơn 2 triệu bản đã được bán ra.
Dawkins tấn công mạnh mẽ vào tôn giáo, coi đó là những ảo tường huyền hoặc do con người tự vẽ ra. Trên đời này làm gì có thần thánh nào, chỉ có những giai đoạn mà con người vì cuồng đạo và vẽ ra những hình hài để rồi lấy đó mà thờ phụng thôi. Ông sử dụng lý luận logic để phá hủy niềm tin của con người về các thể loại tôn giáo, thánh thần và sau đó ông bàn luận tới vấn đề đạo đức, vốn đi liền với tôn giáo.
Dawkins là một trong ba nhà văn chuyên viết về đề tài tôn giáo với những nghiên cứu và lý luận đanh thép. Hai người còn lại là Sam Harris và Christopher Hitchens, họ bị những người sùng đạo Thiên Chúa coi là bộ ba vô đạo. Đó là một tội lớn đối với những người theo đạo, tội sống không có đức tin.
If I Did It: Confessions of a Killer
(Nếu tôi làm như thế: Những lời thú nhận của kẻ giết người)

O.J. Simpson người viết ra cuốn sách này trong quá trình
tranh tụng kéo dài nhiều năm để chứng minh mình vô can trong vụ án mạng
mà nạn nhân là vợ cũ của Simpson cùng bạn trai mới của cô. Cuốn sách về
sau bị đình bản nhưng trước đó 400.000 bản đã được bán ra.
Tác giả cuốn sách, Simpson bị cáo buộc đã sát hại vợ cũ và bạn trai của cô, nhưng anh ta khăng khăng rằng mình vô tội. Trong suốt quá trình điều tra kéo dài hơn 10 năm, Simpson đã cho ra cuốn sách trong đó khẳng định rằng mình không giết hại hai nạn nhân kia. Tuy vậy, Simpson lại đặt mình vào địa vị của kẻ sát nhân, tưởng tượng ra nếu mình là hắn thì sẽ hành động như thế nào.
Khi cuốn sách được xuất bản năm 2006, nhà xuất bản vẫn có cớ để tin rằng Simpson vô tội vì kết luận cuối cùng từ toà án vẫn chưa được đưa ra. Vì mức lợi nhuận hứa hẹn, nhà xuất bản đã ca ngợi trí tưởng tượng, tài lập luận, và những giả định mà Simpson đưa ra là vô cùng hoàn hảo như một nhà trinh thám đại tài.
Sách được bán rất chạy nhưng sau đó một năm, Simpson chính thức bị buộc tội giết người vì toà án đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục để kết luận, ngay lập tức sách bị đình bản. Nhà xuất bản đã rất khôn ngoan và biến cuốn sách này sang dạng tự truyện và để một nhà văn khác viết lại thành những lời tâm sự của kẻ sát nhân.
The Prince
(Hoàng tử)

Tác phẩm đỉnh cao của Niccolo Machiavelli đã phải
chịu rất nhiều điều tiếng trong hàng thế kỷ bởi nó cổ vũ cho chính quyền
chuyên chế. Machiavelli nhận định rằng nhà cầm quyền nên được lòng dân
chúng. Nhưng một nhà cầm quyền được lòng
mọi tầng lớp nhân dân là điều không thể. Có một dạng thức thứ hai của
Nhà nước là sử dụng chính quyền chuyên chế, có đủ uy quyền để khiến mọi
tầng lớp đều phải kính sợ mà tuân theo. Và đa số các chính thể đều thuộc
dạng thứ hai.
Cuốn sách này mang ý nghĩa triết học nhiều hơn là chính trị, nó ủng hộ tinh thần tự lực tự cường của con người. Nhưng cuốn sách nhiều khi đưa đến những luận điểm cực đoan kiểu như ta không cần giúp ai cả bởi tạ tự giúp mình, và người khác cũng phải tự giúp lấy bản thân họ. Tự lực tự cường là một trong số những học thuyết cơ bản của dòng đạo thờ phụng quỷ Sa-tăng. Những người phê phán cuốn sách thường vin vào đó để phủ nhận giá trị của tác phẩm.
Những nhà phê bình đương thời phỉ báng cuốn sách bởi nó phản lại ý tưởng về người lãnh đạo toàn thiện toàn mĩ, phản lại chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Thay vào đó nó xây dựng nên hình ảnh của một nhà nước chuyên chế với những công cụ bạo lực trấn áp. Tuy vậy, dưới ánh sáng khoa học hiện đại, đây vẫn là tác phẩm đầu tiên đánh dấu thời kỳ mở ra dòng lý luận triết học và chính trị hiện đại.
The Holy Bible
(Kinh thánh)

Không có cuốn sách nào được xuất bản nhiều, dịch ra nhiều thứ tiếng và gây ra nhiều tranh lunậ hơn Kinh thánh của đạo Thiên Chúa. Kinh thánh luôn là đầu sách được in ấn và lưu hành rộng rãi nhất trên thị trường và đã được dịch sang 2.400 thứ tiếng trong tổng số hơn 6.900 thứ tiếng trên thế giới.
Chính vì được dịch sang quá nhiều thứ tiếng và trong quá trình chuyển tải từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích sẽ có độ lệch nhất định mà những cuộc tranh cãi kéo dài về cuốn sách đã từng xuất hiện rất nhiều trong lịch sử. Từ đó những nhà hữu thần, vô thần, những nhà nghiên cứu Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo… bắt đầu “tham chiến”. Nếu người này muốn chứng minh luận điểm của người kia sai, họ sẽ phải nghiên cứu cái nền lý luận của đối thủ và vì thế Kinh thánh luôn được tìm mua, một phần để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ đông đảo, một phần để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu.
Trong lịch sử nước Mĩ, những nhà lập pháp đầu tiên đã lấy Kinh Thánh ra làm chuẩn mực lập nên các đạo luật và giải quyết những vấn đề xã hội theo tinh thần của Chúa được thể hiện trong Kinh Thánh. Vì vậy, Kinh Thánh còn được coi là cái nền sinh ra Hiến pháp Mĩ.
Bên cạnh đó những cuộc tranh cãi muôn thuở về vấn đề đạo đức cũng thường liên quan tới Kinh Thánh, những nhà triết học trước đây thường trích dẫn lời của những người nổi tiếng nhưng từ khi có sự ra đời của Kinh Thánh, người ta trích dẫn từ nguồn này nhiều hơn bất kỳ nguồn nào khác. Bên cạnh đó, Kinh Thánh còn mang ý nghĩa chính trị vì nhiều khi để tiến hành một động thái chính trị, kinh tế nào đó, người ta viện tới những lý do trích dẫn từ Kinh Thánh.
(Máu thánh và chén thánh)
Những thông tin mà các tác giả đưa ra nửa thực nửa hư, vốn đã gây tranh cãi trong giới nghiên cứu Thần học, nhưng khi một tác phẩm chính thức xuất hiện trên thị trường với những lời lẽ đinh ninh để thuyết phục người đọc tin vào những gì được viết trong sách, thì nó như một mồi lửa làm bùng lên tranh cãi. Có thể kể ra ba đầu sách nghiên cứu về những vấn đề chưa được công khai và khẳng định về cuộc đời của Chúa Jesus như The Priory of Sion (Tu viện Sion) xuất bản ở Pháp năm 1956 bởi nhà văn Pierre Plantard, The Holy Blood and the Holy Grail (Máu thánh và Chén thánh), và gần đây nhất là cuốn The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci).
The Adventures of Huckleberry Finn
(Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn)
Ở thời kỳ bấy giờ, từ “nigger” không hề có ý nghĩa miệt thị chủng tộc, nó được dùng rộng rãi khắp nơi trên đất Mĩ nhưng giờ đây khi phong trào đòi bình quyền giữa các dân tộc sống trên đất Mĩ ngày càng được quan tâm và trở nên gay gắt thì cuốn sách đã bị “vạ lây” và đành để mất chỗ đứng danh giá trong nền văn học chính thống giảng dạy trong nhà trường. Tuy vậy, theo thống kê, vấn đề nhỏ này không làm ảnh hưởng tới niềm yêu thích của tuổi trẻ Mĩ dành cho cuốn sách. Hầu như em nhỏ nào cũng từng đọc tác phẩm này ít nhất một lần.
The Book of Mormon
(Cuốn sách của người đàn ông đa thê)
Cuốn sách này cũng liên quan khá nhiều tới chủ đề tôn giáo và dường như những gì liên quan tới tôn giáo thì dễ dàng gây ra những cuộc tranh luận bởi nó chính là đức tin của con người. Trong sách, tác giả thể hiện nguyện vọng muôn đời của đàn ông là được lấy nhiều vợ. Tác giả cuốn sách, Joseph Smith khao khát chế độ đa thê quay trở lại nhưng luật pháp Mĩ không cho phép điều này, vì vậy ông đã nghĩ ra một thứ tôn giáo mới và đưa vào đó những câu trích dẫn của Kinh thánh những mong biến thứ tôn giáo này thành một dòng chính thống ở Mĩ để đàn ông có thể được đa thê.
Thứ đạo này tin vào những điều kỳ quái, siêu thực. Nó dựng lên trên cái nền là Thiên Chúa giáo và dẫn giải về những điều không tưởng, thiếu xác thực về cuộc đời của Chúa khiến nó bao trùm trong một màu sắc huyền hoặc và phi lý.
The Catcher in the Rye
(Bắt trẻ đồng xanh)
The God Delusion
(Ảo tưởng về Thượng Đế)
Dawkins tấn công mạnh mẽ vào tôn giáo, coi đó là những ảo tường huyền hoặc do con người tự vẽ ra. Trên đời này làm gì có thần thánh nào, chỉ có những giai đoạn mà con người vì cuồng đạo và vẽ ra những hình hài để rồi lấy đó mà thờ phụng thôi. Ông sử dụng lý luận logic để phá hủy niềm tin của con người về các thể loại tôn giáo, thánh thần và sau đó ông bàn luận tới vấn đề đạo đức, vốn đi liền với tôn giáo.
Dawkins là một trong ba nhà văn chuyên viết về đề tài tôn giáo với những nghiên cứu và lý luận đanh thép. Hai người còn lại là Sam Harris và Christopher Hitchens, họ bị những người sùng đạo Thiên Chúa coi là bộ ba vô đạo. Đó là một tội lớn đối với những người theo đạo, tội sống không có đức tin.
If I Did It: Confessions of a Killer
(Nếu tôi làm như thế: Những lời thú nhận của kẻ giết người)
Tác giả cuốn sách, Simpson bị cáo buộc đã sát hại vợ cũ và bạn trai của cô, nhưng anh ta khăng khăng rằng mình vô tội. Trong suốt quá trình điều tra kéo dài hơn 10 năm, Simpson đã cho ra cuốn sách trong đó khẳng định rằng mình không giết hại hai nạn nhân kia. Tuy vậy, Simpson lại đặt mình vào địa vị của kẻ sát nhân, tưởng tượng ra nếu mình là hắn thì sẽ hành động như thế nào.
Khi cuốn sách được xuất bản năm 2006, nhà xuất bản vẫn có cớ để tin rằng Simpson vô tội vì kết luận cuối cùng từ toà án vẫn chưa được đưa ra. Vì mức lợi nhuận hứa hẹn, nhà xuất bản đã ca ngợi trí tưởng tượng, tài lập luận, và những giả định mà Simpson đưa ra là vô cùng hoàn hảo như một nhà trinh thám đại tài.
Sách được bán rất chạy nhưng sau đó một năm, Simpson chính thức bị buộc tội giết người vì toà án đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục để kết luận, ngay lập tức sách bị đình bản. Nhà xuất bản đã rất khôn ngoan và biến cuốn sách này sang dạng tự truyện và để một nhà văn khác viết lại thành những lời tâm sự của kẻ sát nhân.
The Prince
(Hoàng tử)
Cuốn sách này mang ý nghĩa triết học nhiều hơn là chính trị, nó ủng hộ tinh thần tự lực tự cường của con người. Nhưng cuốn sách nhiều khi đưa đến những luận điểm cực đoan kiểu như ta không cần giúp ai cả bởi tạ tự giúp mình, và người khác cũng phải tự giúp lấy bản thân họ. Tự lực tự cường là một trong số những học thuyết cơ bản của dòng đạo thờ phụng quỷ Sa-tăng. Những người phê phán cuốn sách thường vin vào đó để phủ nhận giá trị của tác phẩm.
Những nhà phê bình đương thời phỉ báng cuốn sách bởi nó phản lại ý tưởng về người lãnh đạo toàn thiện toàn mĩ, phản lại chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Thay vào đó nó xây dựng nên hình ảnh của một nhà nước chuyên chế với những công cụ bạo lực trấn áp. Tuy vậy, dưới ánh sáng khoa học hiện đại, đây vẫn là tác phẩm đầu tiên đánh dấu thời kỳ mở ra dòng lý luận triết học và chính trị hiện đại.
The Holy Bible
(Kinh thánh)
Không có cuốn sách nào được xuất bản nhiều, dịch ra nhiều thứ tiếng và gây ra nhiều tranh lunậ hơn Kinh thánh của đạo Thiên Chúa. Kinh thánh luôn là đầu sách được in ấn và lưu hành rộng rãi nhất trên thị trường và đã được dịch sang 2.400 thứ tiếng trong tổng số hơn 6.900 thứ tiếng trên thế giới.
Chính vì được dịch sang quá nhiều thứ tiếng và trong quá trình chuyển tải từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích sẽ có độ lệch nhất định mà những cuộc tranh cãi kéo dài về cuốn sách đã từng xuất hiện rất nhiều trong lịch sử. Từ đó những nhà hữu thần, vô thần, những nhà nghiên cứu Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo… bắt đầu “tham chiến”. Nếu người này muốn chứng minh luận điểm của người kia sai, họ sẽ phải nghiên cứu cái nền lý luận của đối thủ và vì thế Kinh thánh luôn được tìm mua, một phần để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ đông đảo, một phần để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu.
Trong lịch sử nước Mĩ, những nhà lập pháp đầu tiên đã lấy Kinh Thánh ra làm chuẩn mực lập nên các đạo luật và giải quyết những vấn đề xã hội theo tinh thần của Chúa được thể hiện trong Kinh Thánh. Vì vậy, Kinh Thánh còn được coi là cái nền sinh ra Hiến pháp Mĩ.
Bên cạnh đó những cuộc tranh cãi muôn thuở về vấn đề đạo đức cũng thường liên quan tới Kinh Thánh, những nhà triết học trước đây thường trích dẫn lời của những người nổi tiếng nhưng từ khi có sự ra đời của Kinh Thánh, người ta trích dẫn từ nguồn này nhiều hơn bất kỳ nguồn nào khác. Bên cạnh đó, Kinh Thánh còn mang ý nghĩa chính trị vì nhiều khi để tiến hành một động thái chính trị, kinh tế nào đó, người ta viện tới những lý do trích dẫn từ Kinh Thánh.
Nhà viết kịch Học Phi qua lời kể của con trai - nhà văn Chu Lai
(Sẻ Xanh)- Là nhà văn, nhà viết kịch uyên bác, độc giả biết đến cái tên Học Phi qua những trang văn, vở kịch gây tiếng vang lớn. Ít người biết ông là cha ruột của nhà văn Chu Lai. Hãy nghe “Người của phố” kể về cha mình qua những kỉ niệm và những trang văn.
“Cha tưởng tôi thành tướng cướp rồi tôi thành nhà văn”
Theo cách nói “con nhà nòi” ai cũng tưởng rằng chính nhà văn Học Phi đã định hướng cho con trai, nhà văn Chu Lai (Tên thật là Chu Ân Lai) theo nghiệp cầm bút mà không phải. Từ nhỏ, Chu Lai nổi tiếng nghịch ngợm, ương bướng, kỉ niệm gắn với cha và tuổi thơ của ông là những trận đòn, ông trầm ngâm kể: “Ngày nhỏ, tôi hay bị cha cho ăn đòn vì đánh nhau với trẻ con hàng xóm. Đáng nhớ nhất là khi tôi chừng 14 tuổi, ông cầm roi đuổi tôi chạy suốt căn phố mùa đông, uất quá, lại ngượng với đám con gái đang ngó cổ nhìn ra cười, tôi bèn dừng lại, trợn mắt lên, ý nói:" Bố đánh nữa đi, đánh chết đi!". Không biết đôi mắt “ốc nhồi” của tôi lúc ấy bắn ra tia lửa gì mà cụ sững người, thõng tay xuống và từ đó cho đến mãi về sau tôi không bị đánh nữa. Cụ nói với mẹ tôi: “Thằng này rồi hỏng, mắt nó một là anh hùng hai là tướng cướp. Vậy mà tôi chả thành cả hai để rồi lại chui đầu vào cái trường văn trận bút khốn khổ cả đời”.
Khi được hỏi có phải chính cụ thân sinh hướng Chu Lai theo nghiệp viết không? Vẫn cái giọng tưng tửng, ngang tàng của người lính, nhà văn Chu Lai kể: “Không. Ông cụ đẻ nhiều con quá nên chả hướng cho con nào cái gì cả. Mười anh em trai, toàn trai chứ không có gái mới căng chứ, cứ lớn lên như cây cỏ. Rồi ra trận, loạn lạc, bệnh tật, ốm đau bây giờ chỉ còn hai. Hồi nhỏ tôi mê làm văn công, đi thi tuyển vào trường nghệ thuật quân đội trúng, ông cụ biết mà không ngăn cản. Cả lúc tôi chán son phấn đi bộ đội đánh giặc, cũng là hoàn toàn tự ý”.
“Cha tưởng tôi thành tướng cướp rồi tôi thành nhà văn”
Theo cách nói “con nhà nòi” ai cũng tưởng rằng chính nhà văn Học Phi đã định hướng cho con trai, nhà văn Chu Lai (Tên thật là Chu Ân Lai) theo nghiệp cầm bút mà không phải. Từ nhỏ, Chu Lai nổi tiếng nghịch ngợm, ương bướng, kỉ niệm gắn với cha và tuổi thơ của ông là những trận đòn, ông trầm ngâm kể: “Ngày nhỏ, tôi hay bị cha cho ăn đòn vì đánh nhau với trẻ con hàng xóm. Đáng nhớ nhất là khi tôi chừng 14 tuổi, ông cầm roi đuổi tôi chạy suốt căn phố mùa đông, uất quá, lại ngượng với đám con gái đang ngó cổ nhìn ra cười, tôi bèn dừng lại, trợn mắt lên, ý nói:" Bố đánh nữa đi, đánh chết đi!". Không biết đôi mắt “ốc nhồi” của tôi lúc ấy bắn ra tia lửa gì mà cụ sững người, thõng tay xuống và từ đó cho đến mãi về sau tôi không bị đánh nữa. Cụ nói với mẹ tôi: “Thằng này rồi hỏng, mắt nó một là anh hùng hai là tướng cướp. Vậy mà tôi chả thành cả hai để rồi lại chui đầu vào cái trường văn trận bút khốn khổ cả đời”.
Khi được hỏi có phải chính cụ thân sinh hướng Chu Lai theo nghiệp viết không? Vẫn cái giọng tưng tửng, ngang tàng của người lính, nhà văn Chu Lai kể: “Không. Ông cụ đẻ nhiều con quá nên chả hướng cho con nào cái gì cả. Mười anh em trai, toàn trai chứ không có gái mới căng chứ, cứ lớn lên như cây cỏ. Rồi ra trận, loạn lạc, bệnh tật, ốm đau bây giờ chỉ còn hai. Hồi nhỏ tôi mê làm văn công, đi thi tuyển vào trường nghệ thuật quân đội trúng, ông cụ biết mà không ngăn cản. Cả lúc tôi chán son phấn đi bộ đội đánh giặc, cũng là hoàn toàn tự ý”.

Ít ai biết, nhà văn Chu Lai là con trai của nhà viết kịch Học Phi
Song cái chất nghệ sĩ của con nhà văn đã ngấm vào máu, anh lính Chu Lai xông pha trận mạc cũng một phần do cái chất nghệ sĩ của cha luôn thích thử nghiệm con người mình trong bão tố. Theo cách nói của ông thì “Cái gen văn chương nó mạnh lắm, nó thấm vào người tự lúc nào không hay. Sau này, không rõ nguyên cớ tôi lại viết văn, lúc đó ông cụ mới động viên và giúp thật sự”.
Cha và con không “gặp nhau” trong văn chương
Với tư cách một người viết văn, tiểu thuyết, truyện ngắn của nhà văn Học Phi trang trọng, lịch lãm khác hẳn với văn phong của “Ăn mày dĩ vãng”, “Phố”… Theo nhà văn Chu Lai ông mạnh về văn, cha mạnh về kịch. Chu Lai viết nhanh và hơi điên, cụ Học Phi lại chậm rãi, nhấn nhá và tỉnh như sáo. Giữa một lối viết ngang tàng, dữ dội, phá cách với những trang văn hào hoa, thanh lịch, câu chữ chuẩn xác đúng quy phạm thì làm sao có thể gặp nhau được?
Không gặp nhau trong những trang viết, nhưng cụ Học Phi lại có cách “yêu” văn Chu Lai rất lạ: “Yêu sau lưng”. Khi tôi mạn phép hỏi, cụ Học Phi nhận định thế nào về văn Chu Lai, giọng trầm ngâm, xúc động nhà văn kể: “Bằng khẩu khí, cha chả coi văn tôi ra cái gì, cụ nói với mấy bạn già: Cái thằng tính tình nóng như hổ mang hổ lửa như vậy thì văn chương cái nỗi gì. Thế mà có lần mẹ tôi mách: Suốt tuần qua bố chỉ đọc sách của con, rồi lại muốn xin con mấy cuốn tặng các bạn nhưng ông ngại". Có lẽ ông ngại khen ngợi con quá sớm.
Nhà viết kịch, nhà văn Học Phi
Còn nhà văn Chu Lai không ngần ngại khẳng định văn của cha hiền quá, sạch quá, đọc không sướng. Nhưng về kịch ông lại là bậc thầy. Vở kịch mà Chu Lai ấn tượng nhất là “Ni cô Đàm Vân” được cụ Học Phi viết sau khi nghỉ hưu (tác giả Trần Đình Ngôn chuyển thể sang chèo). “Xem không thấy chút lên gân lên cốt nào, từ đầu chí cuối chỉ toàn những trắc trở và yêu đương nhưng toàn vở vẫn chan chứa tính Đảng. Viết về cách mạng, về người Đảng viên, về đấu tranh như vậy là quá khéo. Có lẽ cụ đã có thời gian hoạt động trong chùa, tâm tính lại đa sầu đa cảm, tức là đa tình nên con người cộng sản của cụ cứ như không, thật như khí trời, rơm rạ”, Chu Lai nói, giọng không khỏi tự hào.
Tôi tặng cha niềm say mê với nghề
Vừa qua nhân ngày giỗ tổ của sân khấu Việt Nam, hội nghệ sĩ sân khấu công diễn lại vở chèo “Ni Cô Đàm Vân” như một món quà mừng nhà văn, nhà biên kịch Học Phi tròn 100 tuổi đời, 80 tuổi Đảng và tôn vinh sự nghiệp cao cả của cụ. Còn nhà văn Chu Lai, chỉ muốn gửi tặng cha mình nhân cách sống bao năm qua, lòng hiếu thảo, sự say mê với nghề. Hơn cả như lời cha dặn biết lấy gia đình là chỗ nương tựa cuối cùng.
"Cha tôi từng nghĩ, lớn lên tôi chỉ có thể trở thành... tướng cướp"
Trong lời mừng thọ cha của ông vẫn pha chút tếu táo, hóm hỉnh: “Câu tôi muốn nói với cụ khi bước vào tuổi 100 là: “Ông Chu Dung Cơ, chả biết có phải cùng họ không, về nghỉ rồi mới tâm đắc: "Tất cả đều ở ngoài ta, chỉ có sức khỏe mới ở trong ta". 100 tuổi cụ đã đạt kỷ lục dòng họ rồi, lại vẫn còn viết được thì có khi đạt kỷ lục quốc gia về độ bền con chữ. Còn tôi, có lẽ khi nào không còn biết rung động với cái đẹp, với phụ nữ thì coi như đã chết, có thể bảy mươi, tám mươi, chín mươi, một trăm...”.
Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi tên thật là Chu Văn Tập, quê ở Tam Nông, Tiên Lữ, Hưng Yên và tham gia cách mạng và viết văn từ rất sớm. Sự nghiệp của ông đến nay bao gồm hơn 30 vở kịch và 9 cuốn tiểu thuyết. Tác phẩm đầu tay ông viết năm 1936 là tiểu thuyết “Hai làn sóng ngược”, dựa trên vở kịch ngắn cùng tên của Nguyễn Văn Năng, sau đổi tên thành“Xung đột” đăng trên báo Đời Nay. Tiếp đó ông viết tiếp hàng loạt truyện ngắn đăng trên báo Tin tức và các báo khác ở Hà Nội thời ấy.
Năm 1944, ông bắt đầu viết kịch, vở kịch đầu tay là “Đào Nương”. Các vở kịch ngắn về sau có thẻ kể tới “Chị Hòa”, “Bên đường dốc”,“Một đảng viên”, “Lúa mùa thu”, “Mở đường”, “Mai”... đã gây được tiếng vang lớn. Năm1976, sau khi nghỉ hưu ông làm bạn với văn chương và viết được những cuốn tiểu thuyếtNgọn lửa, Hừng đông, Xuống đường, Bà đốc Huệ, Cuộc đời về cuối. Từ các cuốn tiểu thuyết, ông lại rút ra một số vở kịch như “Ni cô Đàm Vân”, “Cô hàng rau” rút từ “Ngọn lửa” và “Hừng đông”,“Hoàng Lan”, “Đêm dài”rút từ“Xuống đường”...
Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi từng là Tổng thư ký Văn hoá kháng chiến Liên khu III, Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam và Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lậphạng nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minhvề văn học nghệ thuật (đợt 1).
Đinh Nha Trang







