Kagura, vũ điệu thần thánh của Nhật Bản
(Sẻ Xanh) - Kagura là những
điệu múa tái hiện thế giới thần thoại và lịch sử Nhật Bản. Giờ đây, nó
đã trở thành nét văn hóa bản sắc của người dân đất nước này.
Nữ thần Mặt trời Ama-terasu Omi-kami ra khỏi hang mang lại ánh sáng cho trần gian
Tên gọi vũ điệu thần thánh của Kagura
bắt nguồn từ nguồn gốc ra đời của điệu múa. Tài liệu cổ của Nhật Bản ghi
chép rằng, Kagura gắn liền với câu chuyện về nữ thần Mặt trời
Ama-terasu Omi-kami. Vì giận con người nên nữ thần ẩn mình trong hang
động, không ban ánh sáng cho trần gian. Nữ thần của lễ hội và những vị
thần khác đã dụ nữ thần Mặt trời ra khỏi hang bằng cách nhảy múa. Có
được ánh sáng mặt trời, con người vô cùng vui vẻ, họ mở hội, nhảy điệu
múa của nữ thần lễ hội. Chính từ đó, điệu múa Kagura ra đời, được lưu
truyền và được mọi người tổ chức thành nghi lễ truyền thống.
Trong nghệ thuật trình diễn Kagura không thể thiếu trang phục và mặt nạ. Vì vậy, sẽ là thiếu sót nếu chúng ta bỏ qua vai trò của những người thợ thủ công đối với nền nghệ thuật truyền thống này.
Tại thị trấn Iwami, phía Tây tỉnh Shimane có một hình thức trình diễn kagura được biết đến với tên gọi Iwami Kagura. Một trong những tiết mục đặc sắc nhất của Iwami Kagura là Orochi, thuật lại cuộc chiến giữa Thần Bão tố hùng mạnh Susano với những con rồng khổng lồ. Ngoài những điệu múa điêu luyện, Iwami Kagura đặc biệt cuốn hút khán giả bởi những chiếc mặt nạ đầy sức mê hoặc, các mô hình rồng sinh động và trang phục lấp lánh sặc sỡ. Để có được những chiếc mặt nạ tinh xảo và các bộ y phục cầu kì như thế phải nhờ đến bàn tay khéo léo của các nghệ nhân.
Hầu hết các mặt nạ trong nghệ thuật trình diễn Kagura đều được chạm khắc trên gỗ. Tuy nhiên, mặt nạ Iwami Kagura lại được làm từ giấy washi. Đường nét trên mặt nạ được thể hiện rất sinh động qua sự phối hợp của từng nét vẽ và màu sắc.
Trong nghệ thuật trình diễn Kagura không thể thiếu trang phục và mặt nạ. Vì vậy, sẽ là thiếu sót nếu chúng ta bỏ qua vai trò của những người thợ thủ công đối với nền nghệ thuật truyền thống này.
Tại thị trấn Iwami, phía Tây tỉnh Shimane có một hình thức trình diễn kagura được biết đến với tên gọi Iwami Kagura. Một trong những tiết mục đặc sắc nhất của Iwami Kagura là Orochi, thuật lại cuộc chiến giữa Thần Bão tố hùng mạnh Susano với những con rồng khổng lồ. Ngoài những điệu múa điêu luyện, Iwami Kagura đặc biệt cuốn hút khán giả bởi những chiếc mặt nạ đầy sức mê hoặc, các mô hình rồng sinh động và trang phục lấp lánh sặc sỡ. Để có được những chiếc mặt nạ tinh xảo và các bộ y phục cầu kì như thế phải nhờ đến bàn tay khéo léo của các nghệ nhân.
Hầu hết các mặt nạ trong nghệ thuật trình diễn Kagura đều được chạm khắc trên gỗ. Tuy nhiên, mặt nạ Iwami Kagura lại được làm từ giấy washi. Đường nét trên mặt nạ được thể hiện rất sinh động qua sự phối hợp của từng nét vẽ và màu sắc.
Mặt nạ dùng cho vũ điệu Kagura được chế tác tinh xảo
Giấy washi được sử dụng là loại giấy rất dai, người ta phết hồ lên mặt giấy và dán nhiều lớp trên chiếc mặt nạ. Một chiếc mặt nạ được dán 20 lớp giấy washi, một vài chỗ cần độ dày có thể được dán đến 50 lớp giấy. Tuổi thọ của những chiếc mặt nạ Iwami Kagura kéo dài đến 30 năm. Kỹ thuật sử dụng nhiều lớp giấy washi để chế tạo mặt nạ Iwami Kagura bắt đầu ra đời vào năm 1882.
Khi các lớp giấy washi đã khô lại và kết chặt vào nhau thành một thể thống nhất, người thợ dùng búa gỗ đập bỏ phần mặt nạ bằng đất sét bên trong. Lúc bấy giờ, chiếc mặt nạ hoàn toàn chỉ có giấy washi.
Công đoạn trang trí cho mặt nạ rất quan trọng. Người thợ phải phối màu và thể hiện nét vẽ để tạo nên thần sắc sinh động cho chiếc mặt nạ. Những chiếc mặt nạ tưởng chừng như đơn giản đã đóng góp rất lớn cho sự thành công của nghệ thuật trình diễn Kagura.
Ngoài chiếc mặt nạ, diễn viên Kagura cũng cần đến những bộ trang phục đa dạng được tạo ra từ đôi tay khéo léo của các nghệ nhân dày dặn kinh nghiệm. Sợi chỉ vàng kinshi đắt tiền là nguyên liệu đặc thù dùng để trang trí cho trang phục Kagura.
Kagura – nghệ thuật trình diễn mang tính thần thoại
Kỹ năng biểu diễn của người nghệ sĩ trở
nên sống động hơn, có thần hơn nhờ sự trợ giúp của trang phục và mặt nạ.
Các yếu tố đó đã hình thành nên thế giới nhiều màu sắc của nghệ thuật
trình diễn mang tính thần thoại.
Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm trở thành di sản thế giới
(Sẻ Xanh) - Nghi lễ đón nhân
bằng công nhận Di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
cho Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm diễn ra vào ngày 7/10 tới tại Bắc
Giang.
Như vậy, sau Mộc bản triều Nguyễn
và Bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám Việt Nam, Mộc bản kinh chùa Vĩnh
Nghiêm là di sản thứ ba được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế
giới.
Bộ Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm có tổng cộng 3.050 bản, hầu hết được khắc trong khoảng thời gian từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19. Trong đó chủ yếu là kinh, sách, các văn bản về giới luật nhà Phật và một số trước tác về thơ, phú, nhật kí… của một số vị cao tăng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Với những giá trị to lớn như vậy, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được đánh giá là “bảo vật quốc gia”.
Những mộc bản này đều do chính các nghệ nhân vùng Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương tổ chức khắc trong nhiều khoảng thời gian khác nhau. Vật liệu dùng làm bản khắc là gỗ thị và hầu hết được khai thác tại vườn chùa. Đây là loại gỗ thường được dùng để làm bản khắc in vì gỗ mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ.
Bộ Mộc bản kinh chùa Vĩnh Nghiêm có tổng cộng 3.050 bản, hầu hết được khắc trong khoảng thời gian từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19. Trong đó chủ yếu là kinh, sách, các văn bản về giới luật nhà Phật và một số trước tác về thơ, phú, nhật kí… của một số vị cao tăng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Với những giá trị to lớn như vậy, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được đánh giá là “bảo vật quốc gia”.
Những mộc bản này đều do chính các nghệ nhân vùng Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương tổ chức khắc trong nhiều khoảng thời gian khác nhau. Vật liệu dùng làm bản khắc là gỗ thị và hầu hết được khai thác tại vườn chùa. Đây là loại gỗ thường được dùng để làm bản khắc in vì gỗ mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ.
Một bản khắc mộc bản kinh Phật cổ vô giá
Các mộc bản được khắc bằng chữ Hán hoặc Nôm với kĩ thuật khắc ngược, đây là một kĩ thuật rất khó và tinh vi để khi in ra giấy sẽ trở thành chữ xuôi. Mỗi mặt khắc tương ứng với 2 trang sách. Kiểu chữ rất chân phương và sắc nét. Điều đó chứng tỏ các nghệ nhân người Việt xưa không chỉ giỏi về mặt kĩ thuật mà còn là những người rất am hiểu về cách thức tổ chức văn bản, cũng như thông thạo về chữ Hán và chữ Nôm, một loại hình chữ viết cổ có cấu tạo rất phức tạp của người Việt.
Kích thước các mộc bản không giống nhau tùy theo từng loại kinh sách. Bản khắc lớn nhất có chiều dài hơn 1m, rộng 40 đến 50cm, bản nhỏ nhất chỉ khoảng 15 x 20cm. Qua quan sát, người ta thấy rằng, bề mặt các ván in được phủ một lớp màu đen bóng, đó chính là dấu vết của mực in còn sót lại trên bề mặt bản khắc sau những lần in ấn. Và cũng chính nhờ có lớp mực in này bảo vệ nên các bản khắc vẫn tồn tại bền bỉ qua thời gian mà không hề bị mối mọt, ẩm mốc phá hỏng.
Ngoài những giá trị về mặt hiện vật, bộ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm còn được các nhà nghiên cứu đánh giá là có giá trị rất lớn về mặt học thuật. Dựa vào nội dung các mộc bản này, người ta có thể giải mã được rất nhiều vấn đề thuộc về quá khứ như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học... Đặc biệt, sự xuất hiện hai loại hình chữ viết Hán và Nôm trên các mộc bản này còn là cơ sở giúp cho các nhà ngôn ngữ học và sử học lí giải được lịch sử và tiến trình phát triển chữ viết của người Việt, nhất là quá trình chuyển biến từ chữ Hán (của người Trung Quốc) sang chữ Nôm (loại chữ viết tượng hình do người Việt sáng tạo ra trên cơ sở của chữ Hán). Điều này không chỉ phản ánh sự phát triển về mặt ngôn ngữ và chữ viết mà còn cho thấy tính tự tôn dân tộc của người Việt.
Cho đến nay, dù đã trải qua gần ba thế kỷ, những hoa văn, chữ nổi trên ván kinh bằng gỗ thị vẫn còn rất sắc nét, không hề bị mối mọt.
Việt Nam 'xưa và nay' qua ảnh lồng trong ảnh
(Sẻ Xanh) - Bằng cách lồng ghép những tấm ảnh đen trắng được chụp cách đây hàng chục năm vào khung cảnh tương đương của ngày nay, tác giả của bộ ảnh ấn tượng dưới đây đã tạo nên một góc nhìn hoàn toàn mới về những địa điểm quen thuộc trên khắp Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Xuân Khánh (Khánh Hòa), một “dân chơi ảnh” nổi tiếng với biệt danh Khánh Hmoong đã pha trộn quá khứ và hiện tại bằng cách chồng một hình ảnh lịch sử trắng đen được chụp từ cách đây hàng chục năm lên vị trí chính xác của khung cảnh đó vào hiện tại, rồi bấm máy để cho ra đời những bức ảnh lồng ghép ấn tượng xưa và nay.
Mỗi bức ảnh được tác giả Nguyễn Xuân Khánh kết hợp một cách tỉ mỉ và chính xác từng chi tiết của 2 khung cảnh xưa và nay, để nêu rõ nên những sự tương đồng còn giữ lại được của không gian trước đây và bây giờ cũng như những sự khác biệt về thời gian trong cùng một khung cảnh.
Được biết tác giả đã phải mất hơn 1 năm để đi đến nhiều nơi trên khắp Việt Nam như Huế, Đà Lạt, Thành Phố Hồ Chí Minh… để tạo nên bộ ảnh ấn tượng nằm trong dự án chụp ảnh “Việt Nam - Nhìn lại quá khứ” của anh.
Cùng chiêm ngưỡng những khung cảnh ấn tượng của Việt Nam xưa và nay trong bộ ảnh của tác giả Nguyễn Xuân Khánh:
| Xe tăng quân giải phóng ủi tung cửa Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. |
| Niềm vui chiến thắng tại Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. |
| Đường phố Sài Gòn, năm 1969. |
| Khách sạn Caravelle (Sài Gòn) năm 1969 và nay. |
| Khách sạn Majestic (Sài Gòn) năm 1966 và nay. |
| Khách sạn Continental Palace năm 1950 và ngày nay. |
| Tòa Đô Chánh thập niên 60 của thế kỷ trước và nay là UBND Thành phố Hồ Chí Minh . |
| Chợ Bến Thành năm 1922. |
| Pháp trường Sài Gòn 1966, nay là Công ty Vận tải Đường sắt Tp.HCM. |
| Nhà thờ Đức Bà (TPHCM) năm 1890, khi chưa có 2 chóp mái. |
| Bưu điện Trung tâm Sài Gòn (không rõ năm chụp). |
| Nhà hát Thành phố và Khách sạn Continental đầu thế kỷ 20. |
| Đường phố Sài Gòn, những năm 50-60 . |
| Khu tập thể 135 Trần Hưng Đạo (Sài Gòn) năm 1966 bị phá hủy mấy tầng dưới do bom đạn. |
| Đường phố Nha Trang, trong khoảng thời gian từ 1966-1968. |
| Đường phố Nha Trang, năm 1966. |
| Bãi biển Nha Trang năm 1968 (ảnh gốc được chụp bởi Alfred Eisenstaedt). |
| Đường phố Nha Trang, năm 1967 . |
| Việc Pasteur (Nha Trang) những năm 60 của thế kỷ trước. |
| Đường phố Nha Trang năm 1966-1967. Ảnh gốc được chụp bởi Paul Gansky.. |
| Cổng thành cổ Diên Khánh (Khánh Hòa). |
| Tháp Bà Pô Nagar (Khánh Hòa) . |
| Ga Nha Trang, năm 1970. |
| Nhà Thờ Núi (Nha Trang), trong giai đoạn đang xây dựng vào đầu những năm 1930. |
| Ga Đà Lạt, năm 1948. |
| Khách sạn L’Hotel du Parc (Đà Lạt), năm 1948 và nay. |
| Một góc đường phố Đà Lạt, năm 1968. |
| Khu Hòa Bình (Đat Lạt), năm 1970. |
| Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), giai đoạn thập niên 50 của thế kỷ trước. |
| Chợ Hòa Bình (Đà Lạt), năm 1948. |
| Phố cổ Hội An, xưa và nay. |
| Chùa Cầu (Hội An) . |
| Hội An xưa. |
| Thành cổ Quảng Trị, năm 1968. |
| Đại Nội Huế, trong giai đoạn 1925-1930 . |
| Quân Giải phóng tiến vào Đại Nội Huế, mùa xuân năm 1968. |
| Vệ binh Huế xưa, trong giai đoạn 1910 đến 1920. |
| Nhạc công Triều đình Huế trong thập niên 20 của thế kỷ trước . |
| Cửa Quảng Đức (Huế) những năm 20 thế kỷ trước . |
| Cửa Hiển Nhơn (Huế) cũng trong những năm 20 của thế kỷ trước. |
| Cầu Trường Tiền năm 1967 . |
| Những thiếu nữ mặc áo dài đi trên cầu Trường Tiền vào những năm 60 thế kỷ trước. |




